Thuốc dùng ngừa cơn tái phát về sau
Dùng đường uống hoặc tiêm kéo dài có nhiều tác dụng phụ toàn thân như prednisolon - methylprednisolon hay depersolon. Ketotifen (zaditen) Tác dụng ức chế chất trung gian hóa học gây viêm, có tác dụng chống dị ứng nhưng không có tác dụng giãn phế quản do đó không dùng cắt cơn hen cấp.
Thuốc methylxantlin (theophyllin, amiophyllin) Có tác dụng giãn phế quản và có khả năng chống viêm.
Còn các thuốc kích thích không tuyển lựa beta 2 adrenergic cũng tác dụng như thuốc có lựa chọn nhưng hiệu quả kém hơn và nhiều tác dụng phụ trên hệ tim mạch và thần kinh trung ương nên ít dùng. Thuốc kháng leukotrien Là thuốc có tác dụng chống viêm do ức chế men 5 – lipooxynase không cho men này hoạt động xúc tác để tạo ra leukotrien từ acid arachidonic hoặc ức chế tổng hợp leukotrien D4 & E4, do đó thuốc có tác dụng ngăn ngừa cơn hen do gắng sức hay kết hợp với các thuốc phòng hen khác.
Nếu dùng kéo dài sẽ có tác dụng chống viêm do đó được dùng trong liệu pháp điều trị phối hợp để dự phòng hen lâu dài, kể cả cơn hen về đêm. Tỉ lệ trẻ mắc HPQ tăng nhanh trên thế giới, đặc biệt là châu Á - thanh bình Dương trong 20 năm đã tăng 3 - 4 lần. Thuốc có độ an toàn hẹp, nhiều tác dụng phụ nên không dùng rộng rãi.
Điều trị hen phế quản cho trẻ con. Các thuốc phối hợp trong đề phòng HPQ kết hợp LABA với ICS (corticoid được dùng trong điều trị hen phế quản) như seretid (salmeterol + fluticason) hoặc symbicort (formoterol + budesonide).
Hiện thời có rất nhiều loại thuốc được dùng để điều trị HPQ, tuy nhiên thường dùng các loại sau: Thuốc kích thích tuyển lựa beta 2 adrenergic Thuốc có tác dụng làm giãn cơ trơn phế quản, thúc đẩy quá trình làm sạch các chất nhầy trong phế quản, giảm tính thấm thành mạch, ức chế phóng thích histamin và các chất trung gian hóa học khác.
Loại tác dụng ngắn và nhanh ngoài làm giãn phế quản nó còn có thể làm tăng cường kích thích hô hấp hoặc chức năng cơ trơn của phế quản. Hiện thời, các thuốc tác dụng dài được phối hợp với glucocorticosteroid dạng hít để điều trị kiểm soát hen. Tác dụng của loại thuốc kết hợp này là giảm được các triệu chứng kinh niên ở đường hô hấp, tăng chức năng phổi, giảm cơn hen cấp và tăng chất lượng cuộc sống của người HPQ.
Thuốc kháng IGE (omalizumab) Là kháng thể đơn dòng có tác dụng ức chế việc giải phóng ra các chất hóa học trung gian gây viêm như leukotrien, interlekin, histamin do đó không gây ra các diễn tả dị ứng hay hen trên lâm sàng. Và loại tác dụng dài - LABA (Long Acting Beta 2 Agonist) dùng để kiểm soát hen.
Chính yếu tác dụng tại phổi không có tác dụng toàn thân vì thường dùng đường hít hay khí dung như atrovent.
Tuy nhiên, dùng khí dung hoặc phun mù kéo dài có thể gây nhiễm nấm Candida ở miệng, họng như thuốc becotide - pulmicort hay flixotide. Còn dạng tiền chất của SABA, như bambec uống vào thân mới chuyển hóa thành terbutalin, thuốc này tác dụng kéo dài 24 giờ nên chỉ cần uống 1 lần/ngày.
Nói chung, các thuốc kích thích chọn lựa beta 2 adrenergic ít độc, độ an toàn cao, ít ảnh hưởng đến tim mạch nên được dùng khá rộng rãi. Thuốc thường dùng cho hen nặng và dằng dai. Cromones ngăn trở phóng thích các chất trung gian hóa học gây co thắt phế quản, không có tác dụng cắt cơn hen cấp.
Ưu tiên dùng đường khí dung hoặc phun mù. BS. Tự bản thân thuốc này không có tác dụng giãn phế quản. Loại tác dụng chậm chỉ cần dùng 2 lần/ngày. Hen phế quản (HPQ) là hội chứng viêm đường hô hấp kinh niên có sự tham dự của nhiều loại tế bào gây viêm làm tăng phản ứng phế quản gây nên tình trạng co thắt, phù nề, tăng xuất tiết làm tắc nghẽn phế quản.
Dạng hít xịt hoặc phun mù: với loại tác dụng ngắn, hiệu quả nhanh như thuốc dùng dạng khí dung, với loại tác dụng dài có formoterol hay salmeterol có tác dụng chậm, hiệu quả bắt đầu sau 3 - 10 phút, kéo dài đến 12 giờ.
Corticosteroid Thuốc có tác dụng chống viêm, làm giảm tính nhạy cảm của phế quản. Chỉ khi bị nặng mới dùng đường uống hoặc tiêm tĩnh mạch. Thuốc rất đắt nên ở Việt Nam chưa tiếp cận được. Thuốc dạng uống có loại tác dụng ngắn bắt đầu có hiệu quả trong 30 phút, tối đa sau 2 - 3 giờ, kéo dài đến 6 - 8 giờ.
Có thể được chỉ định dùng điều trị các triệu chứng hen cấp trong sốc phản vệ. Phạm Thị Thục. Loại tác dụng dài có cội nguồn từ SABA được bào chế thành dạng viên giải phóng chậm như volmax hay serevent, tác dụng kéo dài 12 giờ nên chỉ cần dùng 2 lần/ngày.
Thuốc có hai loại: loại tác dụng ngắn - SABA (Short Acting Beta 2 Agonist) dùng để cắt cơn hen. Dùng qua bình xịt (babyinhaler). Thuốc có nhiều dạng dùng như dạng khí dung thường có thuốc salbutamol (ventolin) hay terbutalin (bricanyl) tác dụng nhanh trong 1 - 5 phút và kéo dài 4 - 6 giờ. Thuốc dạng tiêm chỉ dùng khi có cơn hen nặng, nhưng dùng đường này dễ có tai biến nhịp nhanh kịch phát hoặc rung thất.
Đó là thuốc montelukast (singulair), zilentron (zyflo). Hiệu quả của việc phối hợp này tương đương với việc tăng gấp đôi liều corticoid đơn thuần.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét