“Thư” đọc trại theo tiếng Khmer là “thnup”, tức thị bị bỏ bùa
Cũng như những ông đạo thường thấy ở miền Tây, thầy Hai tầm hơn 60 tuổi, búi tóc củ tỏi, mặc bà ba đen, dáng vẻ thong thả, người phương phi hồng hào. Anh Hùng kể mình là người ở cù lao Tân Phú nhưng dạt đến tận đây làm nghề bán rau câu dạo, có khi là chạy xe ôm.
Trong khoảng thời gian này, chúng tôi được thầy Hai kể khá nhiều giai thoại ly kỳ về Thất Sơn thần quyền.
Thần quyền gồm quyền và thuật. An Ngọc (Dòng Đời). Có người kể lại rằng, lão võ sư Hoàng Sơn, một môn đồ ưu tú của phái Thất Sơn thần quyền đã tìm được Đạo Ngựa và học được những tinh hoa của môn võ này. Không biết câu chuyện anh Hùng kể thực hư ra sao, nhưng chuyện thầy Hai luyện “võ bùa” thì dân xứ này ai cũng râm ran phao.
Một lần ông cưỡi ngựa xuống núi đổi rau củ lấy gạo thì bắt gặp một đám lính Pháp đang dùng súng uy hiếp người dân. Sau khi kể sơ về nguồn cội, chúng tôi được làm lễ nhập môn. Thầy Hai dặn, về nhà muốn xin gì cứ niệm chú để gọi về, nhưng phải luyện tập rất lâu cách gọi chú thì “võ bùa” mới ứng nghiệm. Theo đó, thứ võ mà thầy Hai truyền cho chúng tôi là một chi của Thất Sơn thần quyền.
Chúng tôi được chia mỗi người 3 cây nhang, nghiêm cẩn và lặp lại những lời thề theo lời ông Hai đọc. Thầy Hai kể, ông nhặt được bí kíp chân truyền của Đạo Ngựa, cũng chính là tiên nhân của môn Thất Sơn thần quyền. Có tất tật 9 điều dành cho nhập môn, và càng lên cao thì số lời thề càng tăng lên, cao nhất là 16 điều. Lâu lâu ổng hay nhờ tôi mua giùm gạo với một số đồ cần thiết đem lên cho ổng”.
Thầy Hai giải bùa xong thiên nhiên bụng tôi xẹp xuống, gia đình tôi mang ơn thầy Hai suốt đời. Thầy Hai gắt: “Mai mốt tôi chuyển chỗ thôi. Quyền được rèn luyện về thể lực chiêu thức như những môn võ khác, nhưng “thuật” thì rất ít ai biết và thầy Hai là một trong những truyền nhân còn sót lại nắm được “thuật” của Thất Sơn thần quyền. Tây An cổ tự trên núi Sam.
Tôi không thích nhiều người biết nơi mình ở. Tên lính lê dương nổ súng, Đạo Ngựa há miệng đớp lấy viên đạn mà không hề hấn gì, rồi nhả xác đạn ra trước mặt bọn lính khiến chúng thất kinh, vứt súng chạy tán loạn.
Chúng tôi đã có may mắn được tiếp cận và xin nêu một số điều ít biết về môn võ từ lâu đã bị cho là thất truyền này. Tuy không hùng vĩ, nhưng núi Sam mang một di sản đồ sộ với hàng loạt di tích cấp nhà nước “náu mình” trên sườn núi. Sau khi được “khai thông kinh mạch”, chúng tôi được ngơi nghỉ. Vừa khai huyệt thầy vừa giải thích: “Môn sinh nam thì 7 cây nhang, thổi khói 7 lần vào sinh huyệt, tử huyệt.
Còn tôi không nhận môn sinh”. Một số lời thề của thầy Hai mà chúng tôi đã ghi lại được: Một lòng hiếu hạnh với cha mẹ; Không phản trường phái; Không phản thầy; Không phản bạn; Coi bạn như anh em ruột rà; Không cưỡng hiếp kẻ yếu; Không làm điều gian ác; Không mê say tửu sắc; Không thoái chí khi luyện tập; Không thoái lui lúc hiểm nguy; Luôn bảo vệ kẻ yếu; Ôn hòa trong tình bạn; Cứu người trong lúc nguy ngập
Trong một lần bất cẩn, anh bị “thư”, ăn uống không được mà bụng cứ trương sình lên, may nhờ thầy Hai cứu giúp, không thì cũng thiệt mạng nơi này. Sau khi thề và bái lạy trước bàn thờ xong, thầy Hai phát cho chúng tôi mỗi người hai lá bùa, gọi là bùa phòng thân, một vuông, một dài. Đi bác sĩ người ta nói là bệnh gan, nhưng thật ra không phải. Người ta yêu thương đưa tôi lên núi Sam cầu thầy Hai chữa trị.
Lừng danh nhất là chùa Hang, miếu Bà Chúa Xứ, Tây An cổ tự, lăng Thoại Ngọc Hầu. Sở dĩ gọi ông là Đạo Ngựa vì ông hay cưỡi ngựa lên núi tu tập, rồi lại dong ngựa xuống núi để thăm thú xóm thôn. Thật may mắn cho chúng tôi khi trong những ngày rong ruổi tại vùng Thất Sơn, chúng tôi đã làm quen được với anh Ba Hùng, 47 tuổi, ngụ đảo Tân Phú, An Giang, là người đã từng “thọ ơn” thầy Hai.
Về đến nhà, chúng tôi ngay thức thì đọc theo thần chú thầy Hai đã cho, gọi bùa xin quyền, xin lực hộ thể… gọi mãi mà không thấy “ứng nghiệm” gì. Sau chúng tôi có đi hỏi khắp vùng Thất Sơn, nhưng sự nhiệm mầu của “võ bùa” chỉ dừng lại ở những câu chuyện kể. Các cao niên còn kể lại rằng, người muốn luyện loại phù chú này phải ăn những đồ nhuốc nhơ nhất như rác rến, đỉa, trùng đất… thậm chí là máu cục trong kinh nguyệt đàn bà.
Cũng giống chơi ngải, họ phải lựa giờ linh để đọc thần chú, kêu gọi những oan hồn khuất mày, khuất mặt nhập thân để có thể sai khiến được ma quỷ. Có như vậy thần chú mới ứng nghiệm”. Tuy nhiên, tại An Giang vẫn có 1 số "ông đạo" đoàn luyện môn "võ bùa" này với những điều eo sèo và thể thức kỳ quái. Nói rồi thầy lấy 7 nén nhang, đốt lên rồi thổi khói vào các nơi gọi là tử huyệt, sinh huyệt.
Tương truyền, “thư” là cách hóa phép cho một vật to lớn, ví như một nắm tóc rối, con đỉa, khúc gỗ… biến thành nhỏ xíu, rồi bỏ vào đồ ăn thức uống của người muốn bỏ bùa. Nhờ một đôi mối quan hệ, chúng tôi được “chỉ điểm” rằng trên núi Sam, cạnh Tây An cổ tự có một ông đạo sống ẩn dật, thường gọi là thầy Hai rất rành về “thần quyền”.
Ví như thường được chui xuống dây phơi áo quần, trước khi gọi bùa không được gần sắc dục, không được uống nước chung ly, và rất nhiều điều ỉ eo khác. Và cho đến bây chừ, rất nhiều người vẫn tin rằng người Khmer có khả năng sử dụng phù chú để “thư” người khác.
Không biết vì lẽ gì mà trôi dạt đến Việt Nam rồi về vùng Thất Sơn ẩn náu. Trước đây, người Khmer ở Thất Sơn gần như sống tách biệt với cộng đồng, không thích tương hỗ với các dân tộc anh em khác tại địa phương.
Tao nói mà, “võ bùa” khó lắm”. Trời đổ mưa, thôi cũng coi như là cái duyên. Hoàn toàn chưa một ai chứng minh được sự huyền diệu của môn võ thần bí này. Sau, môn võ được truyền lại cho người Kinh, và ông Hai vốn may mắn được “chân truyền”.
Trên vẽ những hình oằn èo giống như chữ của vùng Tây Á, và những biểu trưng không rõ hình thù. Trở lại việc học “võ bùa”, thầy Hai cũng không ngại ngần truyền cho chúng tôi các loại chú như chú xin quyền, chú chữa thương, chú xin lực. Ông ngay tức khắc nhảy xuống cứu người
Ai cũng bảo là tôi bị “thư”, bị yếm rồi. Sau một hồi thuyết phục, anh Hùng cũng chịu dẫn chúng tôi đến nơi thầy Hai đang tu đạo.
Chính cách thức kỳ dị đó mà Thất Sơn thần quyền không được chấp thuận như 1 môn võ “danh chính ngôn thuận” và dần phải lui vào ẩn dật. Và tịnh vô không được để thân mình ô trọc. Anh Ba Hùng, người đã dẫn chúng tôi gặp thầy Hai thì luôn miệng giảng giải: “Chắc tại tụi bây vướng phải mấy điều kiêng kỵ thầy dặn rồi.
Mãi đến khi trời bỗng đổ mưa thì thầy mới mở cửa mời chúng tôi vào nhà. Sau khi vào bụng, những vật trên sẽ trở về dạng hình cũ, kích tấc thông thường, gây đau đớn gớm ghê cho người bị hại. Khi bị “thư” thì không thuốc thang nào chữa nổi, chỉ có những ông đạo cao tay giải bùa mới mong tai qua nạn khỏi. Vùng Thất Sơn là nơi có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống nhất tại tỉnh An Giang.
Cách Tây An cổ tự không xa là căn chòi lá của thầy Hai. Tại đây ông đã được những người Khmer cưu mang và ông quyết định truyền “võ bùa” cho họ.
Thầy Hai bấm độn, và bảo chúng tôi đứng trước bàn thờ. Thầy Hai bảo: “Trước khi tập thần quyền, phải khai thông các huyệt đạo trên thân thể.
Nhưng người Khmer vốn dĩ tự hào về khả năng “thư” của mình nên đã từ khước môn võ này. Sau khi niệm chú, thầy Hai lấy bùa đốt lên, rồi đem tro hòa với nước bắt chúng tôi uống cạn. Thầy Hai tỏ ra rất khó chịu khi anh Hùng dẫn người lạ mặt đến chỗ ở của thầy. Từ thị xã Châu Đốc đến chân núi Sam khoảng 5 cây số. Nên chi, người dân ở đây vẫn thường tô vẽ những câu chuyện kỳ bí về người Khmer.
Ông đạo trên núi Sam Trong vai những người đi “tầm sư học đạo” chúng tôi tìm về vùng Thất Sơn, huyện Tịnh Biên, An Giang - nơi vốn nức danh với những huyền tích ly kỳ. Anh Hùng rùng mình kể lại: “Tôi không biết mình đã làm gì sai mà thiên nhiên bụng cứ trướng dần lên. Đệ tử nữ thì 9 cây nhang, thổi khói 9 lần”. Một võ sinh đang trình diễn.
Sau lần ấy, lính Pháp kéo đến vùng núi nơi ông tu tập để truy lùng ông, nhưng không được. Chúng tôi phải quỳ rất lâu trước mái chòi tranh để vờ xin thầy Hai nhận làm đệ tử của môn võ “thần quyền”. Nguyên tắc dị kì Thầy Hai kể rằng, tiên sư của thần quyền là một cao tăng người Ấn Độ.
Tôi sẽ chỉ cho các anh cách tập luyện Thất Sơn thần quyền, về nhà tự học lấy, thành hay không là ở cái tâm của các anh.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét